Trang chủ Kiến thức nhà nông Tập huấn khuyến nông


Tập huấn kỹ thuật nuôi các đối tượng thủy sản nước lợ thích ứng biến đổi khí hậu

25/06/2025 05:10:59 PM
RSS In

Giữa tháng 6/2025, Trung tâm Khuyến nông tỉnh Quảng Ngãi đã tổ chức tập huấn hướng dẫn kỹ thuật nuôi ghép các đối tượng thủy sản nước lợ thương phẩm trong ao thích ứng với biến đổi khí hậu cho 60 hộ dân của xã An Phú, Tịnh Kỳ, thành phố Quảng Ngãi và xã Bình Đông, huyện Bình Sơn.

Nhằm giúp người nuôi thủy sản tận dụng hiệu quả diện tích ao, hồ sẵn có, góp phần đa dạng hóa sản phẩm cho xã hội và nâng cao hiệu quả kinh tế cho người nuôi. Trung tâm Khuyến nông tỉnh Quảng Ngãi đã triển khai thực hiện mô hình “Nuôi ghép các đối tượng thủy sản nước lợ thương phẩm trong ao thích ứng với biến đổi khí hậu” với 06 hộ dân tham gia mô hình trên tổng diện tích 40.000 m2 tại xã An Phú, thành phố Quảng Ngãi (10.000 m2, 01 hộ dân tham gia), xã Tịnh Kỳ, thành phố Quảng Ngãi (20.000 m2, 04 hộ dân tham gia) và xã Bình Đông, huyện Bình Sơn (10.000 m2, 01 hộ dân tham gia). Các đối tượng thủy sản nuôi ghép gồm tôm sú, cua xanh, cá dìa hoặc cá nâu. Mô hình nuôi ghép tôm, cua, cá trong ao giúp kiểm soát dịch bệnh, các loài này hỗ trợ nhau trong việc cân bằng môi trường trong ao giảm tác động tiêu cực từ biến đổi khí hậu.

 

Anh Lê Văn Mảnh ở xã An Phú, thành phố Quảng Ngãi là hộ trực tiếp tham gia mô hình thả giống cá dìa để nuôi ghép với tôm sú và cua xanh

Nhằm giúp nông dân trực tiếp tham gia và ngoài mô hình nắm được kỹ thuật nuôi ghép các đối tượng thủy sản nước lợ thương phẩm trong ao thích ứng với biến đổi khí hậu. Trung tâm Khuyến nông tỉnh Quảng Ngãi đã tổ chức tập huấn hướng dẫn kỹ thuật nuôi ghép các đối tượng thủy sản nước lợ thương phẩm trong ao thích ứng với biến đổi khí hậu cho 60 hộ dân của xã An Phú, Tịnh Kỳ, thành phố Quảng Ngãi và xã Bình Đông, huyện Bình Sơn (mỗi xã tập huấn cho 20 hộ dân).

Anh Phan Trọng Mến, cán bộ kỹ thuật của Trung tâm Khuyến nông tỉnh Quảng Ngãi làm báo cáo viên đã hướng dẫn chi tiết cho người dân kỹ thuật chuẩn bị và cải tạo ao nuôi, phương pháp chọn con giống, kỹ thuật chăm sóc, quản lý tôm, cua, cá trong ao, kỹ thuật phòng, trị một số bệnh thường gặp...

Theo anh Mến, địa điểm vùng nuôi thường ở vùng trung triều (tiếp vùng cao triều) để dễ tháo cạn ao để phơi đáy ao khi cải tạo. Vùng hạ triều rất khó khăn cho việc thay nước, quản lý chất lượng nước ao nuôi. Đất xây dựng ao thường phải là đất thịt, thịt pha cát, ít mùn bã hữu cơ. Chọn nơi có nguồn nước cung cấp cho ao nuôi dồi dào, chủ động, không bị ô nhiễm, các yếu tố môi trường phải đảm bảo. Ao nuôi nên chọn ở địa điểm thuận lợi về giao thông, thuận tiện cho việc dịch vụ giống, thức ăn, tiêu thụ sản phẩm khi thu hoạch.

Một trong các yếu tố quan trọng góp phần nâng cao năng suất nuôi thủy sản là con giống, do đó người nuôi cần phải chọn con giống tôm thẻ chân trắng hoặc tôm sú không bị dị hình gẫy khúc, co thắt, vẹo thân, tôm phải bơi theo chiều ngược dòng nước (nếu có dòng chảy). Nên chọn tômg giống có kích thước P15 có chiều dài thân 12 - 15 mm, màu sắc sáng bóng, có sắc tố đầy đủ, không chọn tôm có dấu hiệu không bình thường. Đối với cá giống cần phải chọn cá có màu sắc tươi sáng, không dị hình, vây vảy hoàn chỉnh, không bị sây xát, lở loét. Cá hoạt động linh hoạt, bơi lội nhanh nhẹn, kích cỡ từ 5 cm/con trở lên tốt nhất là 20 - 25g/con trở lên.

Đối với cua giống phải chọn cua đồng đều về kích cỡ, khỏe mạnh, hoạt động linh hoạt, không dị hình, cua đầy đủ que càng, không thương tích, không bệnh tật. Nên chọn cua giống có kích cỡ  từ 1,2 cm/con trở lên để thả nuôi.

 Tập huấn hướng dẫn kỹ thuật nuôi ghép các đối tượng thủy sản nước lợ thương phẩm trong ao thích ứng với biến đổi khí hậu

Trong quá trình tập huấn, anh Phan Trọng Mến nhấn mạnh, người nuôi phải tuân thủ đúng kỹ thuật chăm sóc, quản lý tôm, cua, cá. Tùy theo từng đối tượng nuôi, giai đoạn nuôi, môi trường thời tiết, sức khỏe, trọng lượng của tôm, cua, cá mà loại thức ăn và khẩu phẩn cho ăn phải phù hợp, đối với tôm sử dụng thức ăn tự nhiên (động vật, thực vật phù du, rong tảo, các mùn bã hữu cơ), thức ăn tự chế (tận dụng các nguồn nguyên liệu có sắn tại địa phương như ốc, cá tạp, don, dắt, phể phẩm nông nghiệp …) và thức ăn công nghiệp dạng hạt, viên để chế ô nhiễm, góp phần đảm bảo giữ môi trường nước ao nuôi được trong sạch, do thức ăn được sử dụng tốt ít dư thừa.

Lượng thức ăn cho tôm ăn vào buổi sáng và buổi tối nhiều hơn buổi trưa. Khi cho ăn phải rải đều các điểm trong ao để tôm tiếp xúc được với thức ăn. Tháng đầu tiên, khi tôm còn nhỏ cần sử dụng loại thức ăn có kích thước nhỏ. Tuy nhiên cần chú ý loại thức ăn này dễ bị trôi hoặc bị bay khi rải nên thức ăn cần trộn với nước để cho ăn được dễ dàng, ít thất thoát. Để biết tôm ăn thừa hay thiếu, hàng ngày nên dùng sàng ăn để kiểm tra, sàng ăn thường làm bằng khung sắt có kích cỡ 1 x 1 m hoặc có thể 0,8 x 0,8m. Số lượng sàng tuỳ thuộc vào diện tích song phải được phân bổ đều ở các vị trí để tôm tập trung sử dụng thức ăn, thường bố trí 1 sàng/1.000m2.

Đối với cá sử dụng loại thức ăn viên nổi có độ đạm từ 25 - 35% cho vào khung nổi cho cá ăn. Một ngày nên cho cá ăn 2 lần vào buổi sáng và chiều mát, trùng với hai lần cho ăn của tôm nhưng trước khi cho tôm ăn 20 - 30 phút. Khi cho ăn nên cho từ từ để cá bắt mồi, sau khi cho cá ăn 15 - 20 phút mà trong khung hết thức ăn là vừa, tùy tình hình thực tế mà điều chỉnh thức ăn cho phù hợp. Thông thường lượng thức ăn cho cá hàng ngày bằng 2 - 5% trọng lượng cá trong ao.

Đối với cua từ khi thả giống đến hết tháng nuôi thứ 2 cho ăn 10 - 7%/ngày/tổng đàn cua nuôi trong ao. Từ tháng nuôi thứ 3 trở đi cho ăn 7 - 3%/ngày/tổng đàn cua nuôi trong ao. Ngoài ra, cho cua ăn thêm thức ăn cá tạp 2 lần/tuần.

 

Tôm sú giống khỏe mạnh, đồng đều về kích thước và đã được kiểm dịch đúng quy định về chất lượng con giống thủy sản

Trong quá trình nuôi, người nuôi thủy sản phải thường xuyên kiểm tra và duy trì các yếu tố môi trường như pH thích hợp để tôm, cua, cá phát triển tốt là từ 7,5 - 8,5, nên định kỳ bón vôi bột CaCO3, Dolomite để tăng hệ đệm duy trì pH. Lắp đặt hệ thống quạt nước và sục khí để duy trì hàm lượng oxy hoà tan trong nước luôn lớn hơn 4mg/lít (tốt nhất từ 5 - 6 mg/lít), hệ thống quạt nước và sục khí không chỉ làm nước được tuần hoàn, bổ sung oxy hoà tan trong nước mà còn tạo điều kiện để tôm lột xác và gom thức ăn dư thừa và chất thải tập trung lại một chỗ, làm sạch khu vực cho ăn và vùi mình của tôm, giúp giải phóng một số khí độc trong ao nuôi…

Trong nuôi trồng thủy sản nói chung và nuôi ghép tôm, cua, cá nói riêng, người nuôi cần tuân thủ nguyên tắc “phòng bệnh hơn chữa bệnh”. Do đó, người nuôi phải áp dụng các biện pháp phòng bệnh tổng hợp như cải tạo ao nuôi đúng kỹ thuật, chọn tôm, cua, cá giống có chất lượng,  mật độ nuôi phù hợp với điều kiện môi trường địa phương, thả giống đúng kỹ thuật, đúng mùa vụ. Cho tôm, cua, cá ăn với loại thức ăn có chất lượng, hạn chế tối đa thức ăn tươi sống, cho ăn đúng khẩu phẩn không quá thiếu hoặc thừa. Quản lý môi trường ao nuôi tốt, nước vùng nuôi phải sạch, không bị ảnh hưởng bởi nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt, nước có mầm bệnh. Đối với ao nuôi chưa nhiễm bệnh, mà bên ngoài vùng ao đó đã có dấu hiệu nhiễm bệnh thì tuyệt đối không được cấp nước từ ngoài vào, định kỳ 10 - 15 ngày bổ sung các vitamin vào thức ăn để tăng cường sức đề kháng cho vật nuôi...

Tấn Phước